Sịa, một thuở nào
Chạy dọc theo Phá Tam-Giang là môt giăi
cát trắng phau và mịn màng một cách đặc biệt
mà tôi chưa hề thấy ở đâu hết. Những
dồi cát nhấp nhô thoi thỏi trên đó vẻ nên
một khung cảnh thiên nhiên hiền ḥa và mang một cái tên
thật là mộc mạc: Rú. Men theo bờ rú là những làng
mạc san sát cũng có cái tên thật nôm na là Sịa, mà
người dân địa phương hầu như quên
hẳn cái tên văn từ của ḿnh là Tổng Khuông-Pḥ
để nói lên tiếng Sịa với tất cả
sự rung cảm của tâm hồn.
Rú với Sịa như xác
với hồn. Người dân Sịa
gắn liền với rú qua những nổi thăng
trầm gần như suốt cả cuộc đời
ḿnh để rồi cuối cùng được ấp
ủ dưới ḷng rú trong một nghĩa trang bao la,
cảnh vật thiên nhiên mang mát rất nên thơ, không c̣n cái
nặng nề u buồn của các nghĩa trang khác.
Khi đến một tuổi nào đó, người dân
Sịa lên rú t́m cho ḿnh một cái "sinh phần"
để rồi thường ngày lên đó ngắm đi
ngắm lại mà h́nh dung được cái thế giới
của ḿnh một khi nằm xuống, thích thú tưởng
chừng là vua để nh́n thấy lăng tẩm ḿnh khi
c̣n sống. Bên ŕa rú là những lùm cây không rậm rạp
lắm, vừa đủ cho trẻ con lên vui đùa với
cát, leo trèo hái sim hái bứa, và cũng vừa đủ kín
đáo để làm nơi hẹn ḥ thơ mộng của
những cặp trái gái Sịa, không lăng mạn nhưng
rất đa t́nh mà tôi được nghe qua những giai
thoại hấp dẩn.
Đầu làng tôi giáp ranh
với rú có một cái miểu rất linh thiêng gọi là
Miểu Thờ Vọng, ai đi ngang cũng phải cúi
đầu. Năm chú tôi thi "đít-lôm", tôi
thường theo Ông Nội tôi lên đó để cầu
đảo, khi chú tôi đậu xong Ông tôi cũng lên cúng
tạ ơn, làm cho tôi phân vân không biết chú tôi thi
đậu nhờ học giỏi hay nhờ thần linh.
Năm tôi thi ra trường, Mạ tôi cũng có lên cúng,
nhưng không cho tôi hay v́ sợ tôi quê với bạn bè.
Tôi đă lớn lên nơi
cái xứ Sia hồn nhiên đó để cho những kư
ức đậm đà in sâu vào trí óc non nớt của tôi
mà không khỏi thích thú mỗi khi nhắc lại.
Như hầu hết trẻ con xứ
Sịa, tôi say mê và thích thú với những tṛ chơi nhà quê
mà không thiếu phần hào hứng. Cái thú thứ nhất là
lên rú bắt dế về đựng trong mấy hộp
diêm để đem đi đá.Tôi phân biệt những con
dế lữa, dế than với những hung hăng
của nó, rồi ngắt một nhánh nơi cái chổi
đót của Mệ tôi, xoáy vào đầu làm cho nó hăng tiết lên,
dương hai càng ra, phùng hai cánh, gáy re re, thế là thấy
chắc ăn trong trận đấu. Một cái sót chỉ
Mạ tôi vứt đi cũng được tôi quấn
một ṿng cao-su vào giữa ruột để biến thành
một chiếc xe tăng biết leo trèo
qua các chướng ngại vật. Lâu lâu được ăn một cái hột xoài, đem phơi
khô, cắt một nửa làm cái cối xay, lấy chiếc
đủa cắm vào hột khác, cột vào sợi giây
quấn lại xuyên qua cái lỗ của cối để
kéo đi kéo lại, xay măi mà không hề sợ bị
hết pin. Nghĩ lại mà tội nghiệp cho trẻ con
ngày nay, tuy với những đồ chơi hiện
đại và cầu kỳ mà thiếu mất đi cái
phần sống động và sáng tạo của tôi ngày
đó.
Lớn lên h́nh như trẻ con không hề
biết
đến cái khủng hoảng của tuổi
dậy th́. Ở cái xứ Sịa thô sơ của tôi lúc
đó làm ǵ có chuyện bị ảnh hưởng sách báo
phim ảnh làm hư con nít như ngày nay. Vă lại, Ông
Nội tôi rất nghiêm khắc, muốn đúc tôi trong cái ḷ
Khổng Mạnh của những thế hệ
trước, đôi khi tôi cảm thấy có vẽ lạc
hậu, nhưng bù lại được khen là ... ngoan. Khi
ăn cơm tôi được ngồi bên Ông nên ăn
uống khoan thai, trong khi mấy đứa cháu khác ngồi
xa hơn nên phải vói, phải chồm, bị Ông bắt :
« Chậm xem, con nít th́ trước mặt dọn cái ǵ
ăn cái đó, vói chồm trong bàn ăn là vô phép", và
đem tôi ra để làm gương. Tôi
hổ thẹn nhưng cười thầm trong bụng v́
tôi cần ǵ phải vói, món ǵ ngon đă dọn trước
mặt Ông tức là trước mặt tôi rồi mà, v́
vậy tôi bị tụi nó ghen.
Mới lớn lên tôi
gần như không bận tâm lắm về vấn
đề nam nữ. Cho tới một
ngày nọ, Ông tôi sai tôi tới nhà Bác Lư trong làng để
xin tờ giấy khai sanh v́ tôi phải nạp đơn vào
trung học, tôi hết là con nít rồi. Khi gặp cô bé
con Bác Lư, cũng cở tuổi tôi, tôi
ngạc nhiên thấy cô bé có vẻ hơi khác khác với ngày
thường, trong ngực h́nh như có cái ǵ lú lú. Tánh
xấu của tôi khiến tôi nghĩ ngay là cô bé này giấu
trái cam trái quít ǵ trong áo chăng, như tôi thường làm mỗi
khi bẻ trộm cam quít sau vườn để ăn vụng mà sợ Ông tôi rầy. Tôi định mách với Bác Lư nhưng tánh nhút nhát
mở miệng không ra. May quá, suưt nửa cô bé bị
hàm oan. Sau này nghĩ lại
tôi thấy ḿnh quê làm sao, giả thử có ai biết
được chắc là tôi phải độn thổ
mất.
Không hiểu cái tư
tưởng tự kiêu đă đến với tôi từ
lúc nào mà tôi hành diện về cái chợ Sịa của tôi
lắm. Tôi cho là lớn nhất huyện
v́ có lẽ tôi ít đi đây đi đó để so sánh,
nhưng h́nh như tôi cũng nghe phong phanh người
lớn nói như vậy, thôi th́ cứ cho như vậy
đi, để cho cái lổ mủi tôi hỉnh thêm một
chút. Hai bên chợ nhà nào cũng có cái sạp để
buôn bán.Tôi thích nhất là những sạp bán vải với
những o con gái quê quê nhưng mặn mà, lúc nào cũng làm
dáng ra vẻ ḿnh là "dinh", đến độ khi
đọc những tiểu thuyết trong Tự Tực
Văn Đoàn tôi lại dám ví chợ Sịa với phố
Hàng Đào của Hà Nội !
Một năm nọ, tôi có
người anh họ sinh viên ở Pháp về nghỉ hè.
Ông Nội tôi làm mai cho một o con gái có tiếng là
đẹp lại con nhà giàu ở chợ Sịa. Anh này thích chí quá, bắt tôi làm chim xanh. Anh
ăn diện thật bảnh, chải cái đầu láng
bóng theo kiểu "Bob Taylor" mà con trai Sịa cứ
chế-nhạo là con ruồi nào vô phúc đậu lên sẽ
bị té chết, rơi lộp độp như những
chàng trai Sịa nào lén phén tán-tỉnh o nọ. Khổ
nổi là ở Sịa làm ǵ kiếm cho ra hộp brillantine,
anh bắt tôi ra vườn bẻ trộm trái bưởi,
lấy hột ngâm vào nước ấm, một lát sẽ
thành thứ nước sền sệt có thế thay
brillantine được. Những hột bưởi
của tôi đă xe được
mối duyên trai tài gái sắc.
Một điều khó
hiểu làm tôi không lấy ǵ hảnh diện lắm về
chợ Sịa dể thương đó là qua hai dăy phố
lầu không có nhà nào có được cái nhà vệ sinh
hết. Cứ mỗi buổi sáng, gần như cà
chợ kéo nhau lên rú, cách đó khoản một cây số,
với nhũng lùm cây rậm rạp bao quanh những
đụn càt trắng tinh, để rồi trong cái khung cảnh
thanh thiên bạch nhật đầy thi vị đó, thiên
hạ đi t́m cái thú có tự ngàn xưa: "Thứ
nhất Quận-công, thứ nh́..." Cuộc sống tới đó trôi
qua một cách êm đềm hiền ḥa cho tới ngày
cậu con trai con một thương gia giàu có đi
...cưới vợ. Hai sự kiện không ăn
nhậu ǵ với nhau mà lại có một liên hệ lạ
lùng. Cô dâu là một hoa khôi đất Thần-kinh, trong
một gia đ́nh mà các chàng trai Huế không ngớt
ngưỡng mộ qua mấy vần thơ:
Bến Ngự bâng
khuâng t́nh Nhơn Phú,
An Cựu mơ màng bóng
Thảo Vân...
Về làm dâu một phú gia ở Sịa là một
đề tài để thiên hạ ṭ ṃ thêu dệt bàn ra tán
vào.
Con
trai Sịa cũng có giá đó chứ. Nhưng
sự ṭ ṃ không phải ngang đó không thôi. Cứ
mỗi buổi sáng, khi người đẹp ra khỏi
nhà để .....lên rú, th́ y như
rằng một đám lâu la choi choi không hẹn mà gặp,
cứ len lén kéo theo để ṭ ṃ khám phá cho được
cái.... trắng trẻo của con gái Huế. Thế rồi
trăm thêu ngàn dệt, đứa nào cũng cho rằng ḿnh
may mắn hơn đứa khác. Câu chuyện
không phải là vô thưởng vô phạt. Ít lâu sau,
cứ sáng sáng sáng là đám choi choi chờ măi và ngỡ ngàng
v́ vắng bóng người đẹp. Nàng đă từ giă
Sịa ra đi mà có người cho rằng v́ khó chịu
bởi sự chiếu cố quá chuyên cần của đám
choi choi kia. Nàng ra đi đă để
lại một khoản trống trong câu chuyện ngồi
lê đôi mách hằng ngày và những kỹ niệm
"trắng trẻo" một thời ở chợ
Sịa cũng mờ dần theo thời gian.
Sịa cách Huế khoản mười cây số mà tôi
thấy xa làm sao. Đi bộ th́ cũng phải mất gần nửa
ngày v́ phải băng qua đồng ruộng, cầu tre
hoặc lội ngang những con lạch nhỏ. Đi bằng đ̣ th́ thú vị hơn. Từ Huế về, tôi thường xuống
bến đ̣ Kim-Luông dưới chân cầu Đông-Ba vào
khoản chạng vạng tối. Trong
khoan đ̣ mọi người nằm ngồi ngổn ngang,
trai gái lẫn lộn, có khi phải gát chân len nhau. Những người lớn tuổi thường
nằm nghỉ nhắm mắt lại làm như không nghe
thấy những cặp trai gái tán tỉnh nhau. Đ̣ chèo
qua Bao-Vinh, đến Ngă Ba Śnh rồi rẽ vào một con
lạch nhỏ, băng qua đồng ruộng để
về tới bến chợ vào khoản nửa khuya. Vào
những đêm sáng trăng th́ thơ mộng lắm.
Những cô lái đ̣ khỏe mạnh vừa chèo vừa ḥ
những câu t́nh tứ, nhịp nhàng theo
tiếng mái chèo, để đối đáp lại
những giọng nam xa xa đưa lại từ những
con đ̣ khác, rung rinh dưới ánh trăng bao la.
Gặp nhau giữa Ngả Ba Śnh,
Anh xuôi, em ngược đem t́nh nhớ thương.
Rồi từ xa vọng lại
lời nguyện ước :
Bao giờ cho sóng
bỏ gành,
Cù lao bỏ biển anh mới
đành bỏ em.
Một
đôi khi đ̣ vào con lạch nhỏ nước cạn,
mọi người phải nhảy xuống nước
để đẩy , các cô gái cũng
ứng khẩu vừa đẩy vừa tinh quái nói móc
mấy chàng trai lẳng lơ :
Sông cạn mà t́nh không cạn,
Vàng ṃn mà nghĩa không ṃn,
Bây chừ nước lại xa non,
Đêm năm canh tơ tưởng héo
hon ruột tằm.
Những
cặp nhân t́nh trên đ̣ thả hồn theo
mộng, chụm đầu vào nhau, chủ quan cho rằng
những lời t́nh tứ kia chỉ để dành riêng cho
họ mà thôi.
Sịa với Huế c̣n liên lạc bằng một
phương tiện hiện đại hơn là ô-tô. Nói là hiện đại
cho oai chứ thật ra vào thời đó ô-tô chạy
bằng ....than, cái ḷ than nặng nề gắn đằng
sau xe. Mỗi buổi sáng phải quạt
ḷ cả tiếng đông hồ để có đủ
hơi nóng cho máy chạy, đồng thời cũng
để dốt nóng luôn cả đám hành khách ngồi hàng
ghế đằng sau. Mỗi buổi chiều khi xe
về, bác tài thường bóp vào cái kèn cao su kêu toe toe
mấy tiếng, thế là cả lũ con nít chạy tóe ra
bám vào thành xe bất cứ ở đâu để
được hả hê đi một đoạn.
Sịa vui nhộn nhất là vào dịp Tết
hoặc lễ lạc trong gia đ́nh, con cháu nội
ngoại xa gần ở đâu đều kéo về. Sịa có
một sức hấp dẫn lạ thường.
Những ngày gần Tết tôi thường ḷ ṛ theo chị bếp khi làm bánh để
được được xía cho mấy cái rẽo. Hôm
ba mươi Tết, tôi sốt ruột đứng chờ
bên mấy cụ làm heo để xin cho được cái
bong bóng, đem ra giếng mài rữa rồi thích thú thổi
lên, tuy không màu mè như những bong bóng xanh đỏ cho
trẻ em ngày nay của mấy nhà hàng Mắc Đô, nhưng
tôi thấy quư báu và nâng niu một cách lạ thường.
Ngày Tết ở Sịa thường trời lạnh và hay
mưa phùn để cho mấy bà chị ở Huế
về có dịp chưng diện, thắng lên những
chiếc áo "pạt-đờ-xuy " sao mà sang ghê, sao mà
Huế ghê. Sau khi lễ mễ cúng và mừng
tuổi ông bà xong để được xâu một
số xu tiền ĺ x́ vào cái giải rút quần, chúng tôi
rủ nhau đi chợ phiên.
Chợ
phiên nhóm ở trên rú, một cái rú đa năng đa
hiệu, vừa là nơi nhóm chợ, vừa là cái nghĩa
địa bao la để chúng tôi đi thăm mộ ngày
Tết, vừa là nơi hẹn ḥ thơ mộng mà cũng
vừa là nơi bà con chợ Sịa đến để
t́m cái thú sau cái thú làm quận-công. Chợ phiên
nhà quê thi chẳng có ǵ đặc biệt nhưng sao ai
cũng náo nức. Cũng vài ba bàn bài vụ để
rút hết của tôi mấy đồng xu mới
được ĺ x́ ban sáng, cũng vài quầy hàng bán
đồ chơi bất di bất dịch như cái lùng
tung, con lật đật, con gà bằng đất thổi
kêu cái te...nhưng cũng là dịp dể mấy o con gái
Sịa khoe sự đua đ̣i và để cho tôi
đươc vênh váo đi bên cạnh mấy bà con trên
Huế về.
Vào
cái tuổi mà tôi bắt đầu thấy hết trẻ
con th́ Sịa cũng bắt đầu thay đổi
bộ mặt, và bắt đầu biết nếm mùi
chiến tranh cứ triền miên kéo dài. Những ngày tản
cư Sịa trở nên đông đúc lạ thường,
có lẽ là nơi đủ xa Huế để tránh
đươc bom đạn, vừa là nơi không quê
lắm để bà con t́m được một chút dể
chịu trong những ngày chạy giặc. Trong
nhà tôi lại đông như Tết nhưng lẽ tất
nhiên không vui bằng.
Một
người anh bà con bằng tuổi tôi, đi tản
cư mà c̣n đem theo một cây đàn
vĩ cầm, suốt ngày cứ kéo ọ ẹ chói cả
tai làm tôi hơi khó chịu. Sau này găp
lại, tôi chọc anh nói cho nghe lại những khúc
nhạc ngày xưa. Anh cười, đưa cho tôi
mấy bản nhạc và viết thêm:" Chất Huế
có nhiều trong nầy nhất là h́nh ảnh những
chuyến về quê ngoại ở Sịa". Trong khúc " Les Jardins d'Autre Monde "
anh nói :"Tôi muốn làm sống lại ánh sáng và màu
sắc của Huế trong âm-nhạc cổ truyền",
một thứ âm nhạc mà ngày xưa Cụ Phạm
Quỳnh đă nhận xét trong Nam Phong Tạp Chí: "Khi th́
ngọt ngào như hương vị một đóa hoa, khi
nghe ray rứt như tiếng khóc nứt nở, khi u buồn như ánh mắt
phụ nữ trong đêm hè, khi vui như tiếng chim hót mùa
xuân, tất cả xâm nhập vào cả thể xác lẫn
tâm hồn, ḥa trong máu để cho ta một thứ cảm
khoái đê mê.". Ngày nay nhà phê b́nh nhạc Laurence Bancaud
viết về Tôn Thất Tiết đă ca tụng anh
như là :"một thiên tài Á Châu làm
rạng rỡ nền âm nhạc thế giới", và
giới thiệu luôn một lô các giải thưởng
quốc tế mà anh đả đạt được
làm tôi chóa mắt, nào là Prix de la Sacem, Prix Lili Boulanger,
giải thưởng cao quư của UNESCO dành cho Diễn
Đàn Quốc Tế Những Nhà Soạn Nhạc, vân vân và
vân vân. Tôi ngợp thở v́ khoái quá, vội vàng pha một ly
cà phê đậm, ngồi dựa ngữa trong chiếc
ghế bành rồi mở máy ra nghe để cố
thưởng thức trọn vẹn cái tinh hoa đó và
để hưởng chút thơm lây, th́ y như
là....vịt nghe sấm.
Trong
số bà con tản cư ở Huế về có một chú
rể trong gia đ́nh. Anh này là một bác sĩ mà cả nhà không ai nhờ
cậy ǵ được v́ cứ trốn chui trốn
nhủi, bởi lẽ anh là người sáng lập ra
một đảng chính trị mà cộng sản coi như
là kẻ thù số một. Tôi và thằng em
họ ở Huế về tản cư được lănh
nhiệm vụ đưa anh đi trốn. Nhiều khi chúng tôi đi xuyên qua rú suốt cả
ngày để đến một xóm làng xa xuôi hẽo lánh mà
Ông Nội tôi quen biết tin cậy để gởi
gắm. Trên đường đi anh hay kể cho hai
đứa tôi nghe những mẫu chuyện vui vui thích thú.
Khi nghe chó sủa mấy anh em phải dè dặt, tránh lộ
liễu, đi nép theo các lùm cây. Tôi cao
hứng ba hoa không biết học lóm được ở đâu : "Chó thuộc mạng Thổ,
lổ tai nó dính với đất, dù cho ḿnh đi nhẹ
trên đất nó cũng biết được mà
sủa". Anh vặn lại :"
Nếu chó nằm trên tấm ván th́ c̣n thuộc mạng
thổ mà sủa được không?" Tôi hơi bí,
nhưng may quá, lúc đó cũng vừa tới nơi. Yên
thân được vài hôm, công an theo dơi
sát nút lại phải dời đi nơi khác, cứ
thế mà phải sống cái kiếp du mục đó ngày này
qua ngày khác. Cuối cùng anh phải giả dạng làm
người đánh cá, đen diu gầy g̣ không ai nhận ra
đươc, sống trên một chiếc ghe câu con con,
trôi dạt trên Phá Tam-Giang và thoát được cho tới
ngày hồi cư. Về Huế được it lâu
tưởng đă yên thân, nhưng cũng không thoát khỏi
lưởi hái tử thần của cộng sản dành
sẵn cho người quốc gia. Vào một buổi
tối, có kẻ giả dạng bệnh nhân đến xin
cấp cứu đă vào nhà đang lúc ăn
cơm tối để bắn anh ngả gục ngay trên
bàn ăn trước mặt vợ và năm đứa con.
Vào khoản cuối năm 1946, quân Pháp đánh
chiếm thành phố Huế. Trung đoàn Vệ-Quốc-Quân
bảo vệ thành phố phải tháo chạy, rút về
vùng Sịa rồi làn lần rút măi ra tới Liên khu IV vùng
Nghệ Tỉnh. Ngày Huế bị vỡ mặt trận,
tôi theo anh tôi ra chợ
để nghe ngóng t́nh h́nh. Tuy phải chạy bán
sống bán chết mà các anh bộ đội ba hoa kể
lại như là một chiến thắng oai hùng, nào là quân
Pháp chết như rạ, nào là ta lùa chúng vào những hầm trú bom ở sân
trường Khải Định rồi xông khói vào chúng
ngột ra không được chết như chuột, nào
là ta rải trái mù u từ cửa Thuận An lên, chúng mang
giầy bốt như không có đầu gối, té ngổn
ngang chịu trận v...v...,tôi há hốc mồm, bán tín bán
nghi.
Quân
Pháp làm bá chủ thành phố Huế nhưng vẫn bị
du kích quấy phá nên thường mở những cuộc
hành quân càn quét để nới rộng vùng kiểm soát,
trong đó có Sịa. Từ đó hai tiếng "
Tây về " đă gieo trong tôi nhiều nổi kinh
hoàng đến từ cả hai phía., người tháo
chạy cũng như kẽ rượt theo.
Khi
Việt Minh rút lui thường kéo theo những bộ
phận phụ thuộc, trong đó có đám công an với
một số tù nhân, được gọi là Việt gian,
là những người không hợp tác, hoặc thuộc các
đảng phái đội lập. Một
buổi tối nọ, tôi với người em họ
đến ngủ lại nhà chú tôi để học thêm.
Nhà chú tôi ở gần trường học là nơi bộ
chỉ huy đóng quân.Tờ mờ sáng hôm sau, bổng nhiên
có tiếng la om ṣm ngoài đường, hỏi ra th́
được biết có người tù chạy trốn
nhưng đă bắt lại được.Ṭ ṃ chúng tôi
chạy ra xem th́ thấy một người bị trói kéo
lết đi, vừa lạy lục vừa khóc than thảm
thiết. Người chỉ huy mặt lạnh như
tiền, ra lệnh phải xử ngay và phân công cho bộ
hạ, người th́ lên rú đào lỗ để chôn, người th́
đi kiếm giây và cọc để khiên v...v...mọi
người lăng xăng một cách rất thản nhiên.
Tôi có cảm- tưởng là anh tử tội cũng
đang tham gia vào cuộc phân công đó và đang h́nh dung
được những ǵ sắp xảy ra. Sau khi tử
tội được cột vào cái cọc bên ụ
đất ở giữa đường dùng để
cản Pháp tiến quân, người chỉ huy rút trong túi ra
một tờ giấy đọc lảm nhảm vài lời
gọi là bản tuyên án tử h́nh, xong rút ra khẩu súng
lục kiểu cổ-lổ-sĩ tự đời nào,
nhắm vào dầu tử tội. Anh này không
ngớt van xin, nheo mắt lại như để cố né
tránh viên đạn. Một bầu không
khí im lặng nặng nề chờ đợi. C̣ súng
kêu đánh tách một cái nhưng súng lại không nổ.
Người chỉ huy móc trong túi một nắm đạn
khác, lựa một viên nhét vào trái khế nhắm bắn
một lần nửa, nhưng lại cũng không
nổ.Trong giây phút tŕ hoản đứng tim
đó, trong đầu người tử tội lại lóe
ra một chút hy vọng, anh càng kêu oan, van xin nài nĩ
thảm thiết hơn. Người chỉ huy vừa
bực ḿnh vừa mất mặt với đám khán giă bất
đắc dĩ như chúng tôi, bèn gắt : "Súng với
siết, đồng chí nào có viên đạn mới hơn
không?" Sau khi t́m được viên đạn không rĩ, súng nổ vào đầu và nạn nhân
gục xuống. Mọi người vỗ tay,
không phải để hoan hô mà để thở phào
chấm dứt một màn giật gân sống động.
Tôi cũng vỗ tay theo v́ thấy
rằng ít ra họ cũng c̣n viên đạn nổ
được.
Lúc đó tôi bước vào tuổi mười ba
để chứng kiến một vụ xử bắn ly
kỳ như được xem phim cao-bồi.
Thường mỗi khi Tây về th́ mọi
người chạy lên rú trốn. Cái nghĩa địa bao la ấp
ủ trong ḷng đất từ bao thế hệ ông bà
của hầu hết dân Sịa, nay lại là nơi con cháu
được bảo vệ an toàn,v́ quân Pháp dại ǵ mà
phiêu lưu lên đó.Tôi lên trốn ở rú như là một
phản ứng tự nhiên. Bộ chỉ huy
Việt Minh cũng lên đó trốn, họ c̣n cẩn
thận cải trang trong những bộ đồ tang cho
thêm phần thảm thiết, và lẽ tất nhiên không bỏ
quên mấy cục nợ tù nhân. Một hôm, khi t́nh h́nh
quá căn thẳng, tiếng súng từ ngoài chợ mỗi
lúc một gần, bộ chỉ huy quyết định
đem xử bọn tù cho rảnh nợ để c̣n
chạy cho dễ. Để không gây tiếng động, lần này
họ thanh toán bằng mă tấu, không phải v́ sợ
tốn đạn mà sợ lộ nơi đang trốn.
Tôi đứng nh́n từ xa không dám lại
gần, v́ h́nh ảnh vụ xử bắn ghê rợn hôm
nọ c̣n lởn vởn trong đầu. Những vũng máu đổ nhuộm hoen ố
cả một vùng trên cát trắng tinh của rú.
Tây đi đươc một lúc chúng tôi ra chợ th́
thấy những cái đầu lâu treo lủng lẳng nói là
của Việt gian.
Lúc đó tôi bước vào tuổi mười ba
để xem những vụ chặt đầu mà
tưởng rằng ḿnh đang đọc truyện
kiếm hiệp Tàu.
Khi quân Pháp về đóng đồn ở Sịa th́
không phải chạy trốn từng lúc mà phải tản
cư luôn.
Mấy người lớn trong gia đ́nh kể cả Ông
Mệ tôi cũng phải lánh ra một thôn hẻo lánh
gần Phá Tam Giang để được an
toàn hơn. Nhưng trong nhà c̣n mấy bao
gạo, nếu đi hết lở trộm vô lấy th́ c̣n
ǵ mà ăn. Cả nhà quyết định để
tôi và thằng em họ ở Huế tản cư về
ở lại giữ nhà, hai đứa gồng ḿnh bảo
nhau không răng mô mà trong bụng th́ bấn xúc xích. Một
hôm Tây về bắn dữ quá, lại nghe đồn Tây nó
bắn đạn "đùm đum" kêu cắt bụp
hai tiếng, lại gần ḿnh mới nổ, tụi tôi
khớp quá, sợ xanh mặt, nên sau một hồi
lưỡng lự bèn quyết định phải chạy
khỏi nhà. Khi ra khỏi làng tới ngoài ruộng trống,
lại thấy chiếc máy bay lượn trên đầu,
chúng tôi nhào xuống nằm bẹp dưới ruộng,
chỉ chừa lỗ mủi để thở, ướt
như
chuột lột. Sau này nghỉ lại thấy ḿnh ngu quá,
đó là chiếc máy bay bà già kiểu Morane đi thám thính có bắn
biếc ǵ dược đâu mà sợ, nhưng khi biết
được th́ đă.... trưởng thành rồi. Sau một hồi
lần ṃ chúng tôi cũng tới được nơi gia
đ́nh đang tản cư, mừng quá coi như chết
đi sống lại. Chưa kịp lấy lại
hơi thở, th́ ở đâu chú tôi lù lù bước ra,
giáng cho mỗi đứa một bạt tai, nói rằng ;" tụi bây con nít không răng mô,
về lại mà giữ nhà,
họ lấy hét gạo th́ có mà đói". Hai đứa
cắn răng trở lại mà không hiểu tại sao
tự nhiên vững tâm hơn v́ thấy chú tôi nói có lư.
Quả nhiên lần này không răng mô thiệt.
Mấy
hôm sau, muốn tôi yên-tâm hơn, một người lớn
t́nh-nguyện ở lại với tôi thay cho thằng em
họ nhát gan kia. Bà này đă theo hầu
Mệ tôi từ khi Mệ tôi mới về làm dâu ở
Sịa, trong nhà ai cũng gọi bằng Chị kể
cả tôi, mặc dầu lớn tuổi hơn Ba tôi, nên Ba
tôi ghẹo là Chị Tam Đại.Tôi hơi yên tâm nhưng
cũng c̣n áy náy trong ḷng. Một ông chú của tôi theo Việt Minh, giao cho tôi một thùng lựu
đạn bảo phải đem giấu mỗi khi Tây
về. Không biết bỏ đâu, tôi giấu ngay trong cái ḥm
đóng sẵn để trong nhà của Ông Mệ tôi, xong
đậy cái nắp nặng ch́nh chịch lên, cho là yên trí
lắm.
Khi quân Pháp làm ráp đi vào nhà, tôi thường làm
bộ đem sách ra học. Tuy tôi mới xong tiểu học
nhưng cũng láp nháp được vài ba tiếng Pháp, v́
tôi đậu "ri-me " theo
chương tŕnh Pháp, khổ nổi là mấy ông lính Tây
lại không đọc được tiếng Tây nên cái tṛ
của tôi hóa ra vô bổ. Họ hung hăng lục soạn,
bạ chi bắn đó, con gà chạy ngoài sân họ ngắm
ngang đầu tôi để bắn và bắn vỡ tung luôn hai trái cầu bằng chai trên hai
cột trụ ngoài ngơ. May cho tôi là họ không
dỡ cái nắp ḥm của Ông Mệ tôi ra làm tôi cứ
nơm nớp lo sợ. Đi hành quân
họ chỉ mặc vẽn vẹn có chiếc áo thun
phủ tới gối. Chị Tam
Đại sợ quá, làm bộ ra vườn làm đất
cho lem luốt, nhưng rồi cũng bị một tên lính
kéo vào nhà trên mà cũng chẳng buồn đóng cửa
lại. Ở nhà dưới, tôi ngao ngán
điếng người khi nghe tiếng khóc nức nở
vọng lại từ nhà trên, thấy ḿnh yếu
đuối như một con sên trước cơn băo.
Ngày nay nghỉ đến hương hồn Chị, tôi
không khỏi bùi ngùi khi nhớ lại những giây phút kinh
hoàng đó, để bù lại những ngày vui khi Chị làm
bánh th́ hay
xía cho tôi mấy cái rẽo.
Lúc
đó tôi bước vào tuổi mười ba để
chứng kiến tận mắt một cảnh
tượng mà ngày nay dù cho ở những nước
gọi là văn minh vật chất cũng chỉ dành cho
trẻ con trên mười sáu tuổi, dù là trên màn ảnh mà
thôi.
Tất
cả đàn bà con gái trong làng th́ nhất định
phải đem giấu biệt một nơi khỉ ho c̣
gáy nào đó mà chẳng ai có thể đặt chân tới
được.
Ít lâu sau, Chị Tam Đại mất tinh thần không
chịu nổi phải trở lại nơi gia đ́nh
tản cư để săn sóc Mệ tôi thay cho Ông tôi lên
Sịa ở giữ nhà với tôi.
Ông Nội tôi là một hưu quan, t́m cái thú nhàn hạ
nơi quê nhà, trong làng ai cũng nể nang. Ông thường hay can thiệp vào những chuyện trái tai gai
mắt. Một đứa giữ trâu phạm lỗi
để trâu dẫm lên đường làng thay v́ phải
đi trong lối dành cho trâu, sẽ bị Ông đem ra
giếng bắt cởi truồng, dội cho vài gàu
nước lạnh trước mặt mấy đứa
khác đứng lêu lêu và cười rồ rộ. Tánh Ông vui nhưng rất nghiêm. Ngoại
trừ đối với mấy bạn đồng liêu và
người lớn tuổi, Ông coi mọi người
như con cháu trong nhà dù không phải trong họ hàng. Khi
trong làng có kế hoạch dẩn thủy nhập
điền, mấy ông Vẹm bắt mỗi nhà phải
đào một cái hào sâu nửa thước ở
trước đường để dẫn nước,
Ông tôi chê là dốt, bảo rằng có nhà đào nửa
thước nhưng cũng có nhà phải đào sâu hơn
hoặc cạn hơn tùy theo cao thấp chứ. Đại khái như vậy, tuy
họ không dám ra mặt nhưng cũng "ghim" là Ông
hay lư sự,
mà
đối với cộng-sản lư sự là một
tội phạm.
Nhà
Ông tôi trong một cái vườn gồm hai căn xếp
thành h́nh chữ L nên Ông thường giới thiệu:
" Nhà tôi vẫn ở chốn thôn
quê,
Ba gian mát mẽ lại hai
hè...."
Nhà trên làm chỗ thờ hoặc dành khi có khách, c̣n
thường th́ gia đ́nh ở nhà dưới. Mỗi khi bị sai lên nhà
trên tôi cũng hơi rợn rợn, ngoại trừ khi sai
lên bưng cái quả phẩm đă cúng xong xuống th́ tôi
nhanh nhẩu lắm v́ trên đường c̣n
được ăn vụng vài trái cam
trái nho.
Đêm hôm đó đúng ngày hai mươi tháng giêng, tôi
ngủ với Ông tôi ở nhà dưới.
Không khí Tết chẳng có ǵ c̣n lại v́ cả nhà
tản cư hết. Ngoài trời c̣n cái lạnh của
những ngày mới ra Tết, trăng lờ mờ trong
sương mù huyền ảo. Ngoài sân,
dưới bóng của dàn bầu, mấy trái bầu
lủng lẳng đu đưa làm cho tôi rợn ḿnh hơn
và thấy sợ ma hơn. Tôi lên giường nằm
sát vào Ông tôi cho đở lạnh và đở sợ.
Vào
lúc nửa khuya, tôi giật ḿnh thức dậy v́ bổng
nhiên một toán người súng ống lè kè ập vào nhà
để gọi là mời Ông tôi đi họp,
trước sự sửng sốt của hai ông cháu. Tự nhiên tôi thấy rợn tóc gáy và ớn
lạnh quá. Tôi mở tủ lấy
một chiếc áo bông, ôm chặc vào người và thở
vào đó một chút hơi nóng để Ông tôi mặc thêm
v́ ở ngoài c̣n lạnh lắm. Tôi
bước ra sân th́ thấy một toán người lố
nhố dưới dàn bầu, gươm giáo lập ḷe bên
mấy trái bầu lủng lẳng, họ đuổi tôi
vào. Khi Ông tôi đi rồi th́ tôi không dám nằm
xuống nửa, run cầm cập, ngồi chống
mắt chờ cho mau sáng để chạy đi báo cho gia
đ́nh biết.
Thế
rồi hôm sau cả Sịa sống trong hoang mang tột
độ, v́ đêm hôm đó có cà trăm người
bị bắt mà không biết đem đi đâu, phần
lớn là những người trí thức hay phê phán
hoặc có máu mặt, kể cả dân Sịa và một
số người tản cư ở Huế về, trong
số đó có chú tôi nửa. Chú tôi là một
người có nhiều nhiệt huyết, ông đă tự
nguyện lănh chức vụ Thôn-trưởng không công trong
lúc dầu sôi lửa bỏng đó. Tôi phục chú tôi
ở chỗ ông rất giỏi tiếng Pháp, tôi
thường đến học với ông và cho tới nay
tôi vẫn chưa quên được những cái nhéo tai hay
những cái cú vào đầu mỗi khi tôi viết chính
tả sai, tôi biết chú tôi là người chuộng sự
hoàn hảo và kỹ luật.
Tin tức càng ngày càng mờ mịt. Ai cũng
nghĩ rằng thân nhân ḿnh bị tập trung ở một
nơi riêng biệt nào đó đă là một việc phi lư
ghê gớm lắm rồi, không ai dám nghỉ xa hơn
nửa. Cho đến một hôm có
người t́m thấy một cái xác trên rú, rồi hai ba cái
nửa lần lần t́m ra. Hoang man
trở thành tuyệt vọng. Những
gia đ́nh có nạn nhân tổ chức thành những toán
đi t́m xác trên rú, trong những toán đó có tôi.
Mỗi người một cây gậy để xoi lên
cát, xếp thành hàng ngang để không bỏ sót một
khoản trống nào, như những người đi t́m
nạn nhân bị tuyết phủ trên núi tuyết ngày nay
vậy. Hy vọng, thất vọng rồi tuyệt
vọng lẫn lộn trong ḷng mọi người.
Khi thấy một vết máu đỏ trên cát trắng,
mọi người la lên, đào đào xới xới, tôi
lại rơi vào một tâm trạng mâu thuẩn là mong
rằng dưới đó không phải là Ông tôi hoặc Chú
tôi để c̣n nuôi thêm chút hy vọng. Khi
đào xuống thường là những cảnh
tượng ghê rợn vượt khỏi trí tưởng
tượng của tôi lúc bấy giờ và ngay cả bây
giờ nửa. Đôi khi đào lên chỉ là một
số đầu lâu không có xác, hoặc là những cái xác
không đầu, làm cho tôi cứ vẫn vơ
thắc mắc t́m hiểu cho ra cái lư do của hành
động kỳ quái man rợ đó. Tôi không c̣n đủ
b́nh tỉnh và can đảm để kể lại
những ǵ đă đập vào đôi mắt non dại
của tôi lúc đó, đôi mắt gần như chưa bao
giờ biết khóc.Tôi nhắm mắt thật chặc và
cố dụi mạnh để xua đuổi nhanh chóng cái
h́nh ảnh đó đi, cái h́nh ảnh mà tôi e ngại cho ai
phải chia xẽ với tôi...Sau bao ngày lặn lội, hy
vọng rồi thất vọng nặng nề dày ṿ lên
mọi người. Cuối cùng, vào một chiều hoàng
hôn ảm đạm, mọi người đang lạnh
buốt và gần như kiệt sức sau nhiều ngày
lặn lội trong cảnh kinh hoàng, toán tôi sắp sửa
ra về th́ có tiếng la hoảng ở đằng xa v́
một toán khác t́m ra được một cái xác nữa. Tôi vội chạy đến và nhận ra
được cái áo bông lạnh giá trên người Ông tôi
mà tưởng rằng h́nh như trên đó c̣n nóng hơi
thở của tôi. Tôi như rơi vào
một khoản trống mà không biết bám vào đâu.
Lúc đó tôi bước vào tuổi mười ba
để chứng kiến cái cảnh kinh hoàng nhất
của đời tôi.
Thế
rồi tôi xa Sịa từ đó và chỉ trở lại
nửa thế kỹ sau, để t́m thấy cái xác xơ
trong ḷng tôi bên cái xơ xác của cảnh vật, căn nhà
ngày xưa nay chỉ c̣n lại cái cột trụ cửa ngơ
mà hai trái cầu bằng chai bị bắn vỡ c̣n
để lại dấu vết.
Tôi t́m ra chợ, gặp một o con gái bán văi, tôi làm
bộ hỏi:" Đây là Sịa phải không?" O con gái hóm hỉnh trả
lời:" Dạ không, đây là S.I.A." Tôi cười ngạc nhiên và
thương cho cái tếu nơi o con gái, tưởng đă
mất đi sau nhiều thế hệ. Sau này tôi mới
vỡ lẽ là những người chủ trương
vụ tàn sát năm xưa muốn biện minh cho hành
động của ḿnh, rêu rao rằng họ đă tiêu
diệt được một tổ chức gián
điệp của ngoại bang đang âm mưu
rước voi về giầy mồ, thay v́ đă thủ
tiêu những trí thức yêu nước và những
người không đồng chính kiến với họ, nên
đă chụp lên đầu người dân Sịa cái
mũ:" Các anh không CIA th́ cũng CIB thôi.”
O
con gái sanh sau đẻ muộn sau này đă được
học tập như vậy, thôi th́, muốn chắc
ăn, không A mà cũng chẳng B, cứ gọi là S.I.A.
của Sịa một thuở nào.
Phương-vũ Vơ Tam-Anh