Bệnh nói chữ
Phương-Vũ Vơ Tam-Anh
Trên con đường xâm lược
Miền Nam Việt-Nam để thi-hành chiến-tranh
nghĩa-vụ do khối cộng-sản giao-phó, bên cạnh
những xe tăng đại-bác rần-rộ của
Liên-xô Trung-cộng, cộng-sản Bắc Việt đă
không quên đem theo một thứ vũ-khí kỳ-quái khác
không kém phần nặng nề, đó là "Văn-hóa Xă -hội Chủ-nghĩa "
để mong áp-đặt lên nhân-dân Miền Nam. Mặc
dầu được hết sức tô-bồi sơn
phết cái gọi là "văn-hóa" đó đă không
cảm-hóa được ai v́ nó quá lai-căn, xa lạ
đối với người dân Miền Nam, mà c̣n đem
lại hậu-quả trái ngược là bị
đồng-hóa trước nền văn-hóa thuần-túy
dân-tộc sáng-tạo và cởi-mở của Miền Nam.
Qua sự bở ngở lúc ban đầu, dần dà nó
trở nên khó chịu rồi bị châm-biếm
chế-nhạo để rồi cuối cùng làm
đề-tài cho những mẫu chuyện tiếu-lâm
được lan tràn khắp nhân-gian.
Trong văn-học
nghệ-thuật, nền văn-hóa đó đươc
bắt đầu bằng một t́nh thương:
" Thương cha, thương mẹ, thương
chồng,
Thương ḿnh th́ một, thương Ông (Staline) th́
mười ".
và một niềm vui:
" Vui biết mấy khi nghe
con học nói,
Tiếng đầu ḷng con gọi Xit-Ta-Lin ".
Trong cuộc thi vẽ nhà
mồ của Hồ-chí-Minh, người trúng giải
được khen thưởng là phản-ảnh đúng
tinh-thần dân-tộc, đă nói lên nghệ-thuật
Việt-Nam ( ! ). Ngày nay không c̣n ai chối
căi đươc rằng "Lăng Bác" sừng
sững ở Hà-nội là bằng-chứng một bản
sao thu nhỏ cái lăng của Lénine ở Mac-tư-khoa,
thắp đuốc t́m măi cũng không thấy chút ǵ
Việt Nam cả, kể cả những nhận xét
vô-tư nhất của báo-chí thế -giới.
Sứ-giă tiền-phong của
nền văn-hóa đó không ai khác hơn là mấy cán-bộ
Miền Bắc vào tiếp-thu Miền Nam sau ngày 30 tháng
Tư năm 1975. Với một bộ gió bên ngoài không
mấy hấp dẫn, với một kiến-thức
của con cóc ngồi đáy giếng, lại mang cái
bệnh hay nói phét, họ đă không dấu diếm nổi
dáng-điệu ngơ-ngác bàng-hoàng trước
cảnh-vật và nhân-t́nh Miền Nam, rồi đâm ra mơ
màng, thèm thuồng, ham muốn và tự đặt câu
hỏi là không biết ai "giải-phóng" ai. Một
cán-bộ văn-hóa tiếp-thu đài phát-thanh Sai-g̣n, đă
giam ḿnh ba ngày liền trong pḥng vi-âm để mê-mang với
những bản nhạc Miền Nam như được
đưa vào một thế-giới khác mà họ chưa
hề biết tới, để rồi không kiềm
hảm được sự sản-khoái của tâm-tư
nên đă đặt tên những bản nhạc đó là
"Nhạc Vàng". Sau đó chính-quyền cộng-sản
sực tỉnh, thấy rằng chữ "Nhạc
Vàng" quá hay và c̣n quá hấp-dẫn với dân-chúng
miền Bắc nên phải đổi lại là
"Nhạc Ngụy", nhưng cũng chưa ổn, v́
cái ǵ hay là c̣n của "ngụy" hay sao, cuối
cùng phải gán cho cái tên thật xấu xa là "Nhạc
Sến". Chao ôi! Trong một chế-độ mà lao
động là vinh-quang, công-nhân là đội tiền-phong
của Cách-mạng Xă-hội Chủ-nghĩa, th́
người lao-động chân tay lam-lũ nhất lại được
xếp vào hạng thấp hèn đáng khinh-miệt nhất,
c̣n đâu những danh từ hoa-mỹ như
đấu-tranh giai-cấp, chiến-tranh nhân-dân v...v...
Chiến-lợi-phẩm
đầu tiên hấp-dẩn nhất của cán bộ
chỉ là chiếc đồng hồ đeo tay, một
thứ xa-xỉ của miền Bắc. Chiếc
đồng hồ tự động có ngày tháng đă
mê-hoặc các sứ-giă đó và đă được họ
mô tả bằng một thứ danh-từ siêu-thực:
"đồng hồ hai cửa sổ và không
người lái ".
Trong t́nh-trạng lúng-túng
đó, người cán-bộ bị lâm vài thế kẹt.
Một mặt lúc nào cũng nơm-nớp lo sợ cấp
trên đọc được tư-tưởng thầm
kín của ḿnh mà bị phê-b́nh là "tiêu-cực" là
"chao đảo" chăng, một mặt muốn
đánh tan cái mặc-cảm thua sút nên bèn tung ra cái
chưỡng "nói chữ", vừa để
chứng tỏ là ḿnh trung-kiên, vừa để ḷe rằng
ta đây cũng có văn-hóa. Không biết lệnh lạc
ở đâu mà từ trên
xuống dưới, từ ông lớn đến ông bé
đều dùng một thứ ngôn-ngữ giống nhau, mà
lại... chẳng giống ai, và chẳng Việt Nam chút
nào, khiến cho người dân trong Nam cứ ngỡ là ḿnh
đang bị xâm chiếm bởi một đoàn quân
ngoại-lai nào.
Dân Sài-g̣n đă
được một phen nực cười khi nh́n
mấy chú cán-bộ dạo phố cứ ngẩn ṭ te
ngước mắt nh́n các nhà cao tầng để cho nón
cối rơi lộp độp, rồi bào nhau: " Đi
khẩn -trương lên các đồng-chí, trời có
khả năng mưa đấy, tớ là anh nuôi, c̣n
phải tranh thủ về thổi cơm tốc-độ
cho mấy đồng-chí ở trên ăn nữa đấy
". Đáng buồn thay, những chữ thật
dăn-dị, thật dể thương, thật Việt nam
như "mau", "có thể ", " cố
gắng", "gấp" th́ nay bị thay
thế bằng những danh-từ " bác-học"
kiểu cộng-sản vừa nặng nề, vừa sai
nghĩa, vừa đi xa ngôn-ngữ đại-chúng (thế
mà cộng-sản thường vổ ngực tự
xưng là phát sinh từ đại-chúng)
Chữ "khẩn-trương"
không phải là nhanh mà c̣n hàm ư là nguy cấp, căn thẳng,
cần phải đối-phó ngay, phải đề-pḥng,
phải chăng với bản-chất đa-nghi, nên
cộng-sản lúc nào cũng đề-pḥng, ḍm
trước ngó sau nên đă nhập-tâm mà phát-âm ra như
vậy. Trời có "khả-năng" mưa phải
hiểu là trời có quyền, biết cách làm ra mưa
chứ không phải là có mưa hay không. "Tranh thủ "
có hàm ư là thi đua, giành giựt chứ không phải là
cố gắng. Chữ "anh nuôi" lại không có
giống cái, một chị đầu bếp cũng
phải gọi là "anh nuôi ", v́ nếu gọi là
"chị nuôi" th́ lại hóa ra "vú em "
mất. C̣n " thổi cơm tốc-độ "
th́ xin miễn phê-b́nh, v́ chữ này đă đi vào
ngôn-ngữ của mấy chú ngáo trong truyện khôi-hài
binh-dân để chọc cười thiên-hạ.
Theo cộng-sản th́
ngôn-ngữ là một phương-tiện chính-trị. Khi
c̣n chịu ơn Trung-quốc, để được
đồng-hóa một chút cho vừa ḷng quan thầy, họ
chẳng những đă không ngần-ngại cho du -nhập
vào những danh-từ nặc mùi Ba Tàu, như " sự-cố
kỹ-thuật" "bị-vong-lục" mà
cả những khía cạnh khác của văn-hóa như y-phục,
tóc tai, âm-nhạc, nghệ -thuật v...v... Ngay cả
những bản nhạc được tôn-kính như "
Hang Pắc-Bó" để ca tụng Hồ-chí-Minh khi c̣n
ở hang th́ cũng nặc âm-điệu của một bài
hát xẩm. Có một dạo, ngay giữa thành phố
Hà-nội có một cái đồng-hồ lớn như
kiểu Big Ben ở Luân-Đôn (chắc con ếch Hà-nội
muốn to bằng con ḅ Luân-đôn hay sao) cứ mỗi
giờ lại trổi lên bản nhạc"Hang
Pắc-Bó" khiến cho khách qua đường cứ
ngỡ là ḿnh đang du-lịch ở Hồng-Kông hay
Chợ-Lớn.
Khi xăy ra chiến-tranh với
Trung-cộng, Trung hoa không c̣n "vỹ-đại "
nữa mà trở thành "kẽ thù số một" th́
lập tức Việt Nam hóa những chữ như "sự
cố " thành "trục trặc" và "bị
vong lục " thành "sách trắng ", nhờ
đó dân Việt Nam mới hiểu được
tiếng Việt .
Như bất cứ hành-động
nào của người dân dưới chế-độ
cộng-sản, kể cả những cảm-t́nh như vui
buồn thương ghét, đều được chỉ-đạo
để rập theo một khuôn, nên "nói chữ "
cũng phải theo những nguyên-tắc
nhất-định. Do đó, "nói chữ" cũng
không phải là chuyện dể, muốn chắc ăn th́
trên nói sao dưới cứ theo đó mà nói như con
vệt, v́ lỡ nói sai một chút hay không đúng
thứ-tự các chữ th́ có thể bị nghi ngờ là
xuyên-tạc và sẽ "có vấn-đề" ngay.
« Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững
chắc lên Xă -hội Chủ -nghĩa » là nhất
định phải theo thứ tự đó, bố bảo
cũng không có chú cán-bộ nào lại dám nói « tiến
mạnh, tiến nhanh… »
Trong một dịp nào đó,
lănh-tụ đă thốt ra câu "nói chung là tốt ",
thế là liền sau đó, cả nước đua nhau nói
theo, h́nh như nói được câu đó thi
được gần lănh-tụ hơn, trung-kiên hơn,
hể mở miệng ra là "nói chung là tốt ", dù cho
ở trường-hợp chẳng tốt chút nào hết,
đến nổi có người than phiền là bị
dị-ứng với bốn chữ đó. Khi xăy ra chiến-tranh
với Trung-cộng, một bác-sĩ của Hà nội
quản-lư chúng tôi ở trại tù Sơn-La, vẫn
tự-hào là có gịng máu tư-sản nên ít mặc cảm
hơn với chúng tôi, đă mớm cho chúng tôi biết là
sẽ phải chuyển đến một trại tù do
công-an quản-lư rất khắc-nghiệt, có nghĩa là
bước xuống thêm một tầng nữa trong
địa-ngục nhà tù cộng-sản. Trước
hoàn-cảnh bi-đát không lấy ǵ tốt đó, bác-sĩ
không biết nói ǵ hơn, bèn an ủi chúng tôi bằng
bốn chữ "nói chung là tốt" !!
Trong một bài diễn-văn,
lănh-tụ đă dùng sai văn-phạm khi nói "Học
tập tốt, lao động tốt."....v́ theo
tiếng Việt, chữ "tốt " là một
tỉnh-từ chứ không thể là một
trạng-từ. Thế nhưng từ đó về sau,
cả nước cứ nhắm mắt sai theo, để
rồi những câu chúc nhau thật duyên-dáng như "ăn
ngon, ngủ yên, chơi vui" được thay
thế bằng một thứ tiếng Việt nhại theo
lănh-tụ như : "ăn tốt, ngủ tốt,
chơi tốt " nghe chói
tai như người ngoại-quốc mới học nói
tiếng Việt Nam vậy.
Lẽ tất-nhiên cái
bệnh nói chữ cũng không chừa mấy ông bác-sĩ
cách-mạng. Trên một bệnh-án, có lần chúng tôi
phải điên đầu v́ mấy chữ :"O.E. viêm
ruột thừa ". Sau khi toát mồ hôi lần ṃ
mới té ngữa ra O.E. là viết sai của chữ E.O.(En Observation) mà các quan thầy thuốc Tây
thời Pháp-thuộc hay dùng c̣n lưu lại. Điều
oái-ăm là vị bác-sĩ đặt bút viết mấy
chữ đó lại mù tịt tiếng Tây, cho nên OE hay EO th́
cũng thế thôi, miễn sao nghe "oai" hơn, Tây
hơn, mấy tiếng Việt Nam mà họ cho là
tầm-thường như "nghi ngờ..."
hoặc "đang theo dơi..."
Một chàng trai si-t́nh
Miền Bắc chóa mắt trước vẻ
mỹ-miều của cô gái Miền Nam đă viết một
bức thư đầy t́nh-tứ như sau (những
chữ trong dấu ngoặc là do tác-giă bài này chú-thích
để dể hiểu):
"....Từ ngày gặp em,
anh đă có đối-tượng (người yêu),
tuy đă nhiều lần trao-đổi (nói chuyện)
nhưng em vẫn chưa nắm (hiểu)
được anh, tuy anh không có khả-năng (có
thể) gặp em nhiều nhưng nói chung là anh rất căn
(nôn nóng) nhưng không mấy cường điệu (bốc-đồng),
mặc dầu có nhiều sự-cố (trục
trặc) nhưng anh cũng khắc-phục (vượt
qua) sẽ bố-trí (sắp đặt) để khẩn-trương
(mau) gần em hơn, rồi sẽ đề-bạt (xin)
tập thể nhất-trí (thuận) để anh quản-lư
(cưới) em, anh sẽ tranh-thủ (cố
gắng) kiếm được một mặt bằng (căn
nhà) cho chúng ta, th́ lúc đó mới đạt yêu cầu (thỏa
măn)...."
(Bức thư c̣n dài nhưng
không dám trích hết v́ sợ người đọc sẽ
điên lên mất.)
Chắc
chằn là chàng trai sẽ không "đạt yêu
cầu" được v́ cái mùi t́nh-tự khó ngữi
của bức thư không làm xiêu ḷng được cô gái
miền Nam dăn-dị hiền-ḥa, cũng như "văn-hóa
xă-hội chủ-nghĩa" lai căn phải vấp ngă
trước thành-tŕ văn-hóa truyền-thống Việt
Nam.
Phương-Vũ Vơ Tam-Anh